• Skip to primary navigation
  • Skip to main content
  • Skip to primary sidebar
  • Skip to footer
jobpro.com.vn

jobpro.com.vn

Thông tin tư vấn việc làm

  • Trang Chủ
  • Biểu Mẫu
  • Sự Nghiệp
  • Tư Vấn Phát Luật
  • Việc Làm
Trang chủ » Tài Liệu » Phân tích bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu hay nhất

Phân tích bài thơ Đồng Chí của Chính Hữu hay nhất

jobpro Tháng 7 14, 2021 Tài Liệu Bình luận

Đồng chí- một bài thơ lấy cảm hứng từ tấm lòng yêu nước thiết tha, ngợi ca vẻ đẹp bình dị nhưng rất đáng trân trọng của anh bộ đội Cụ Hồ trong những năm kháng chiến gian lao chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta. Bài thơ đã tái hiện chân thực bối cảnh nơi chiến trường hiểm ác cùng với đó là sự thiếu thốn về vật chất của những chiến sĩ chân không áo vải. Hãy cùng nhau phân tích bài thơ Đồng chí của nhà thơ chiến sĩ Chính Hữu để thấy những vẻ đẹp, niềm vui ánh lên của người chiến sĩ trong thơ Ông.

Xem thêm: Phân tích bài thơ Tỏ Lòng

1.Dàn ý chi tiết phân tích bài thơ Đồng Chí của tác giả Chính Hữu.

1.1.Mở bài.

Giới thiệu tác phẩm: Bài thơ Đồng Chí được sáng tác bởi nhà thơ Chính Hữu.

Hoàn cảnh sáng tác: sáng tác năm 1948, sau khi Ông đã cùng đồng đội tham gia chiến dịch Việt Bắc.

1.2. Thân bài

*Nguồn gốc, cơ sở hình thành tình đồng chí.

– Tình đồng chí bắt nguồn từ sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân của những người lính:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Anh với tôi đôi người xa lạ

Tự phương trời chẳng hẹn quen nhau”

Sự tương đồng về hoàn cảnh xuất thân của những người lính: đều là những nông dân, những người con của vùng quê nghèo khó “nước mặn đồng chua”, “đất cày lên sỏi đá”.

Hai miền đất xa lạ “đôi người xa lạ” của Tổ Quốc nhưng bây giờ chúng ta đã cùng nhau đi chung một chí hướng phục vụ Đảng, dân tộc Việt Nam và cùng giống nhau ở cái “nghèo”.

=>Bốn câu thơ đầu đã giới thiệu thật giản dị hoàn cảnh xuất thân của người lính: Họ đều là những người nông dân nghèo.

– Tình đồng chí được hình thành từ những điều thật giản đơn, bình dị: sự cùng chung nhiệm vụ, cùng chung lý tưởng, sát cánh bên nhau trong hàng ngũ chiến đấu phục vụ Đảng:

“Súng bên súng, đầu sát bên đầu”

Những Người đàn ông xa lạ vốn “chẳng hẹn quen nhau” nhưng cùng chung lý tưởng, nguyện vọng cao cả đã khiến họ gắn kết và xích lại gần nhau trong hàng ngũ quân đội cách mạng.

“Súng” là vũ khí chiến đấu và cũng là biểu tượng cho nhiệm vụ, trọng trách chiến đấu, “đầu” là đại diện cho lý tưởng cao cả của người lính trên mặt trận.

– Tình đồng chí nảy nở và bền chặt trong chính những hoàn cảnh thiếu thốn,khó khăn nhất nơi chiến trường của người lính:

“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ”

Cái khó khăn thiếu thốn về vật chất được thể hiện rõ qua hình ảnh: những đêm thời tiết rét buốt tê tái đến âm độ c ở chốn rừng âm u mà những chiếc chăn mỏng manh cũng không thể đủ ấm cho các chiến sĩ nên đành “chung chăn”.

Nhưng chính sự chia sẻ, chung chăn ấy với nhau trong hoàn cảnh đặc biệt ấy đã trở thành niềm vui, gắn bó chặt chẽ hơn những chàng trai xa lạ để trở thành “đôi tri kỷ”- cùng nhau chia ngọt, sẻ bùi.

Phân tích bài thơ Đồng Chí của tác giả Chính Hữu
Phân tích bài thơ Đồng Chí của tác giả Chính Hữu

=> Sáu câu thơ đầu đã giải thích cội nguồn và sự hình thành tình đồng chí, đồng đội hữu hảo giữa những người lính trẻ với nhau.

Câu thơ thứ bảy với hai chữ được thốt lên nghe thật tự hào, ấm áp và thân thương. Đó chính là sự kết tinh, đâm chồi của những tình cảm nồng ấm mà họ đã dành cho nhau:

Đồng chí!

*Những khó khăn, gian khổ mà họ đã cùng nhau trải qua:

– Đồng chí là sự cảm thông sâu sắc cho nhau, chia sẻ cùng nhau những tâm tư, nỗi niềm sâu kín nhất, thân mật nhất của nhau:

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày,
Gian nhà không, mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”

Những chàng trai trẻ ra đi chiến đấu để lại sau lưng những gì yêu quý nhất, thân thuộc nhất của quê hương: ruộng nương, gian nhà trống cùng mẹ già và con thơ , giếng nước gốc đa đầu đình. Từ “mặc kệ”cho thấy tư thế ra đi dứt khoát ra đi đầu không ngoảnh lại của người lính.

Nhưng sâu thẳng trong tâm can người lính khi ra chiến trận vẫn da diết nhớ quê hương, nhớ những gì thân thương nhất, lo lắng cho những người thân yêu ở căn nhà tạm bợ mà chỉ một cơn gió thổi qua cũng rung rinh.

Ở ngoài mặt trận, những đêm khuya hoặc lúc rảnh rỗi đoàn quân được nghỉ ngơi, những người lính trẻ xưa kia thường viết những cuốn nhật ký để bộc bạch nỗi niềm sâu kín nhất của mình vào những trang giấy nhỏ.

– Tình đồng chí còn là cùng nhau chia sẻ những gian lao, thiếu thốn của cuộc đời người lính :

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.”

Những người không những thiếu thốn về vật chất mà họ còn thiếu thốn cả về thuốc thang chữa bệnh. Nơi chốn rừng thâm nước độc ấy luôn ẩn chứa biết bao những hiểm nguy luôn rình rập: đó là hình ảnh của những chàng trai bị những cơn sốt rét rừng hành hạ dưới thời tiết buốt giá gió rít mạnh từng cơn, là hình ảnh môi miệng khô và nứt nẻ chảy máu. Nhưng những người lính ấy vẫn cùng nhau nở nụ cười trên môi để động viên, khích lệ nhau cùng vượt qua. Đó là hơi ấm, tình cảm từ của tình đồng chí đồng đội “thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.

Hành động tay nắm lấy bàn tay của những người đồng chí, thật xiết bao xót xa cho người đọc bởi chính những hơi ấm, tình cảm xuất phát từ trái tim đến nhau chính là liều thuốc bổ ích nhất, hiệu quả nhất giúp họ chiến thắng cái lạnh ở “chân không giày” và thời tiết “buốt giá”. Cặp từ xưng hô “anh” và “tôi” luôn đi với nhau, có khi đứng chung trong một câu thơ đã thể hiện rõ tình cảm gắn bó, đôi tri kỉ của những người đồng đội.

* Hình ảnh biểu trưng cho tình đồng chí và khát khao hòa bình lập lại.

– Ba câu cuối cùng khép lại bài thơ bằng một hình ảnh liên tưởng thật hữu tình của vầng trăng và cây súng:

“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo”

Vẫn là hình ảnh âm u, mịt mù và lạnh lẽo của chốn rừng thiêng Việt Bắc, nhưng nổi bật lên là biểu tượng thật đẹp của người lính bộ đội cụ Hồ “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”. Hình ảnh những người lính trẻ sát cánh bên nhau để sưởi ấm cho nhau, sẻ chia tình cảm nồng hậu cho nhau xua tan đi cái lạnh lẽo, cô quạnh trong đêm rừng u minh. Họ đã đứng cạnh bên nhau với tư thế luôn sẵn sàng, phong thái ung dung nhưng đầy quyết liệt “chờ giặc tới” để cùng nhau đánh tan lũ giặc cướp nước.

– Câu thơ cuối cùng là một đặc sắc nghệ thuật của tác giả: “Đầu súng trăng treo”. Đó là một hình ảnh thật đẹp với sự kết hợp của hình ảnh vầng trăng trên cao- biểu tượng cao quý của sự hòa bình, yên ổn và hình ảnh đầu ngọn súng-biểu tượng của sức chiến đấu ngoan cường của người chiến sĩ

Hay đó là sự kết hợp hài hòa nhưng mang chất chứa đầu óc iên tưởng thơ mộng của thi nhân về biểu tượng đẹp của cuộc đời người lính: chiến sĩ mà thi sĩ, thực tại mà mơ mộng. Hình ảnh ấy mang được cả đặc điểm của thơ ca kháng chiến – một nền thơ giàu chất hiện thực và giàu cảm hứng lãng mạn.

=> Đoạn kết bài thơ là một bức tranh đẹp về tình đồng chí, thể hiện khát khao đất nước được thống nhất, hòa bình lập lại ở muôn nơi để mọi nhà đều được sum vầy, đoàn viên.

1.3. Kết bài

-Khẳng định vẻ đẹp của hình tượng người lính trong kháng chiến chống Pháp.

-Nêu cảm nghĩ bản thân về tình đồng chí, đồng đội gắn bó nghĩa tình trong thời kỳ chiến tranh chống giặc ngoại xâm.

2. Bài văn phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu hay nhất.

Nhà văn Ma Văn Kháng đã từng có một nhận định rất hay về văn chương: “Văn chương là chuyện đời thông qua việc đào bới bản thể mình ở chiều sâu tâm hồn…” Quả đúng là như vậy, văn chương luôn là một lĩnh vực phản ánh rất chân thực các gam màu cuộc sống con người. Người thi sĩ nhạy bén luôn tìm thấy vẻ đẹp của cuộc sống, của con người ngay từ những hoàn cảnh gian khổ nhất, khó khăn nhất như cuộc sống của những người anh hùng chân không, áo vải, thiếu thốn đủ điều trong cuộc kháng chiến chống giặc Pháp vào năm 1948 tại núi rừng Việt Bắc. Chúng ta hãy cùng phân tích bài thơ Đồng Chí của nhà thơ chiến sĩ Chính Hữu để thấy rõ hơn về bức tranh hiện thực nơi núi rừng biên giới hiu quạnh nhưng thấm đẫm tình đồng chí đồng đội bằng những áng thơ thật giản dị, mộc mạc.

Bài thơ Việt Bắc (1948) là sáng tác của một nhà thơ chiến sĩ, kể về câu chuyện, cảm nhận chân thật của chính nhà thơ Chính Hữu về cuộc sống, những khó khăn, gian khổ mà những chàng trai bộ đội cụ Hồ phải trải qua nơi núi rừng Việt Bắc để chiến đấu đánh tan âm mưu xâm lược, đổ bộ của bọn giặc Pháp vào cơ quan đầu não- chiến khu Việt Bắc của Đảng ta.

Mở đầu bài thơ, tác giả đã giới thiệu cho người đọc về nguồn gốc và cơ sở hình thành nên tình đồng chí, đồng đội của những chàng trai mười tám đôi mươi:

“Quê hương anh nước mặn đồng chua

Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá

Bằng sự tài hoa của mình, tác giả đã tái hiện về một cuộc trò chuyện thân tình giữa hai người lính trẻ với nhau. Những người lính đều có xuất thân là những người nông dân nơi thôn quê nghèo khó: đó là quê hương anh “nước mặn đồng chua”, là làng tôi nghèo “đất cày lên sỏi đá”. Phải chăng chính cái nghèo khó, lam lũ từ nhỏ đã giúp tôi luyện ý chí kiên cường, quyết tâm lên đường tham gia kháng chiến của những chàng trai thanh niên thuở mười tám, đôi mươi.

Anh với tôi đôi người xa lạ
Tự phương trời chẳng hẹn mà quen nhau”

Anh với tôi là hai con người xa lạ, chưa từng quen biết nhau nhưng ở đây lại được ngòi bút tài hoa của nhà thơ miêu tả đứng cạnh nhau trở thành “đôi người xa lạ”. Xa lạ bởi vì khác nhau về quê quán, gốc gác nhưng đều giống nhau ở việc cùng chung một lý tưởng cao cả , chung một chí hướng đó là phục vụ Đảng, chiến đấu bảo vệ độc lập chủ quyền Tổ Quốc thiêng liêng.

Bài văn phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu
Bài văn phân tích bài thơ Đồng chí của Chính Hữu

Bốn câu thơ mang âm hưởng thật thật nhẹ nhàng, như tiếng hát tâm tình của những người lính trẻ, họ đều xuất thân là những thanh niên chân chất nơi làng quê nghèo khổ và cùng chung lý tưởng thật lớn lao, đáng trân trọng.

Chính những cái đồng: đồng ý chí, đồng hoàn cảnh, đồng lòng mà đã giúp những trái tim xa lạ ấy, xích lại gần nhau hơn, để sẻ chia tình cảm, nỗi niềm cho nhau. Từ đó hình thành nên tình đồng chí, đồng đội thật thiêng liêng, cao cả.

“Súng bên súng đầu sát bên đầu”

Hình ảnh súng là biểu tượng chiến đấu và cũng là biểu trưng cho nhiệm vụ, trọng trách chiến đấu cao cả của người lính, còn hình ảnh “đầu sát bên đầu” là biểu hiện của lí tưởng, ý chí chiến đấu xích lại gần nhau tạo nên sự gắn kết bền chặt của những người lính trên mặt trận xa xôi.

Tình đồng chí- tình cảm thật đặc biệt, thiêng liêng như những bông hoa tươi thắm nở rộ trên vùng đất khô cằn nhất, khó khăn nhất . Đó cũng chính là sự phản ánh chân thật nhất về hoàn cảnh thiếu thốn nhất vật chất, khó khăn nơi chiến trường của những người lính.

Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ

Cái khó khăn thiếu thốn về vật chất ấy đã được nhà thơ khắc họa thật chân thực qua khung cảnh đó là những đêm trời rét buốt đến âm độ C, gió rít lạnh từng cơn lạnh thấu đến tận xương tủy con người. Những chiếc chăn mỏng manh, đầy chắp vá kia làm sao có thể đủ để sưởi ấm cho những người lính tội nghiệp, nên chỉ còn cách nằm xích lại gần nhau, đắp chung mảnh chăn mỏng manh với nhau để hơi ấm của từng người sẽ lan tỏa cho nhau giúp xua tan đi cái rét buốt của mùa đông.
Nhưng cũng chính sự chia ngọt sẻ bùi với nhau trong hoàn cảnh đặc biệt ấy đã trở thành niềm vui, sự gắn bó keo sơn giữa những người lính trẻ giúp “đôi người xa lạ” trở thành “đôi tri kỉ”. Cũng nói về sự sẻ chia ấy, nhà thơ Tố Hữu đã viết:

Thương nhau chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng.

Để rồi câu đến câu thơ thứ bảy với hai chữ thật thân thương, cô đọng, là kết tinh của những tình cảm quý báu, ấm áp mà họ đã dành cho nhau:

Đồng chí

Tình đồng chí là đỉnh cao của tình bạn, tình người, là kết tinh của mọi tình cảm, là cội nguồn sức mạnh để người lính vượt qua những tháng ngày khó khăn gian khổ.

Hai tiếng “đồng chí” vang lên thật đơn sơ, mộc mạc mà cảm động đến nao lòng. Nó như là “nhãn tự” làm bừng sáng lên ý nghĩa của cả đoạn thơ.

Tình đồng chí của những người lính trẻ thật thiêng liêng biết bao!Họ dành cho nhau những tình cảnh bền chặt, chia sẻ với nhau những nỗi niềm sâu kín nhất:

“Ruộng nương anh gửi bạn thân cày
Gian nhà không mặc kệ gió lung lay
Giếng nước gốc đa nhớ người ra lính”

Bởi những chàng trai trẻ khi lên đường ra trận đều để lại sau lưng những gì yêu quý nhất, thân thuộc nhất của quê hương, đó là: mảnh ruộng nhỏ quanh năm cày cấy đã nuôi lớn các anh thành những chàng trai khỏe mạnh; là gian nhà trống vắng bóng một người trụ cột nên không còn ai chống đỡ, sửa sang trở nên chênh vênh; đó cũng là hình ảnh giếng nước gốc đa nơi anh gánh nước mỗi ngày. Từ “mặc kệ” đã cho thấy một tư thế dứt khoát ra đi, quyết tâm không vương vấn để các anh lên đường thực hiện sứ mệnh bảo vệ Tổ Quốc.

Nhưng sâu thẳng trong tâm can người lính khi ra chiến trận vẫn da diết nhớ quê hương, nhớ những gì thân thương nhất, lo lắng cho những người thân yêu ở căn nhà tạm bợ mà chỉ một cơn gió thổi qua cũng rung rinh. Có lẽ đó cũng chính là những nguồn động lực lớn lao, tiếp thêm ý chí mạnh mẽ giúp các anh lên đường hành quân.

Các anh từ sự thấu hiểu những nỗi niềm riêng tư của nhau để rồi chia sẻ những gian lao, thiếu thốn với nhau, cùng nhau quyết tâm vượt qua:

“Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh
Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi
Áo anh rách vai quần tôi có vài mảnh vá
Miệng cười buốt giá chân không giày
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.”

Các anh đóng quân nơi chốn rừng thiêng nước độc, nơi ấy luôn ẩn chứa biết bao những hiểm nguy rình rập cùng với đó là những khó khăn về vật chất. Đúng là chỉ có những người thực sự đã từng trải qua như chiến sĩ Chính Hữu mới hiểu thấu được nỗi vất vả ấy. Những người lính không những thiếu thốn về vật chất mà họ còn thiếu thốn cả về thuốc thang chữa bệnh, chúng ta không còn xa lạ với hình ảnh những chàng trai bộ đội Cụ Hồ bị những cơn sốt rét rừng hành hạ đến không mọc nổi tóc, chết đi sống lại dưới thời tiết buốt giá đến âm độ C ở chốn rừng Việt Bắc; là hình ảnh môi miệng khô và nứt nẻ chảy máu. Nhưng điều đặc biệt là những người lính ấy vẫn rất lạc quan, vẫn cùng nhau nở nụ cười trên môi để động viên, khích lệ nhau cùng vượt qua. Đó là hơi ấm, tình cảm từ của tình đồng chí đồng đội “thương nhau tay nắm lấy bàn tay”.

Nhà thơ cũng thật tinh tế khi miêu tả hành động tay nắm lấy bàn tay của những người đồng chí, thật xiết bao xót xa cho người đọc bởi chính những hơi ấm, tình cảm xuất phát từ trái tim đến nhau chính là liều thuốc bổ ích nhất, hiệu quả nhất giúp họ chiến thắng cái lạnh ở “chân không giày” và thời tiết “buốt giá”. Cặp từ xưng hô “anh” và “tôi” luôn đi với nhau, có khi đứng chung trong một câu thơ đã thể hiện rõ tình cảm gắn bó, đôi tri kỉ của những người đồng đội.

Khép lại bài thơ là một bức tranh thiên nhiên tươi đẹp và một hình ảnh liên tưởng thật hữu tình của tác giả về vầng trăng và cây súng:

“Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.”

Vẫn là hình ảnh âm u, mịt mù và lạnh lẽo của chốn rừng thiêng Việt Bắc quen thuộc, nhưng nổi bật lên là biểu tượng thật đẹp của người lính bộ đội cụ Hồ “đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới”. Hình ảnh những người lính trẻ sát cánh bên nhau để sưởi ấm cho nhau, sẻ chia tình cảm nồng hậu cho nhau xua tan đi cái lạnh lẽo, cô quạnh trong đêm rừng u minh. Họ đã đứng cạnh bên nhau với tư thế luôn sẵn sàng, phong thái ung dung nhưng đầy quyết liệt “chờ giặc tới” để cùng nhau đánh tan lũ giặc cướp nước.

Bằng sự liên tưởng phong phú của mình, Chính Hữu đã sáng tạo nên một hình ảnh thật đẹp : “Đầu súng trăng treo”. Đó là một hình ảnh gợi lên một khung cảnh thật lãng mạn với sự kết hợp của hình ảnh vầng trăng trên cao- biểu tượng cao quý của sự hòa bình, yên ổn và hình ảnh đầu ngọn súng-biểu tượng của sức chiến đấu ngoan cường của người chiến sĩ

Hay có thể nói đó là sự kết hợp hài hòa nhưng mang chất chứa đầu óc iên tưởng thơ mộng của thi nhân về biểu tượng đẹp của cuộc đời người lính: chiến sĩ mà thi sĩ, thực tại mà mơ mộng. Hình ảnh ấy mang được cả đặc điểm của thơ ca kháng chiến – một nền thơ giàu chất hiện thực và giàu cảm hứng lãng mạn.

Bài thơ Đồng Chí với những nét vẽ thật tinh tế và chân thực về cuộc sống và những khó khăn, thiếu thốn của các chiến sĩ bộ đội Cụ Hồ những năm kháng chiến gian khổ chống thực dân Pháp đã chạm đến trái tim của biết bao thế hệ độc giả. Qua bài thơ, tình đồng chí của những anh bộ đội Cụ Hồ đã trở thành tình tri kỷ thật sâu nặng và thiêng liêng, đó là tình cảm cao đẹp tạo nên nguồn sức mạnh tinh thần lớn lao giúp các anh chiến thắng nghịch cảnh, cùng nhau chiến thắng kẻ thù hung bạo, mang lại hòa bình độc lập cho dân tộc Việt Nam.

Xem thêm: Phân tích bài thơ Tự Tình II 

Bài viết cùng chuyên mục

  • Manulife ra đời năm nào? Lịch sử hình thành và phát triển
  • Phân tích bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm hay nhất
  • Điểm chuẩn kèm học phí Đại học Sài Gòn TP.HCM 2021
  • Full lời nhạc và MV bài hát Anh Không Tha Thứ của ca sĩ Đình Dũng
  • Học phí Đại học Đà Lạt năm học 2021 – 2022

Reader Interactions

Để lại một bình luận Hủy

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Primary Sidebar

Taxi Tải Thành Hưng

Hãng Taxi Tải Thành Hưng – Dịch Vụ Chuyển Nhà, Chở Hàng Uy Tín Tại Hà Nội

Cleanhouse Và Xu Hướng Chuyên Nghiệp Hóa Dịch Vụ Vệ Sinh Công Nghiệp

taxi tải thành hưng

Taxi tải Thành Hưng Nam Định – Chuyển nhà nhanh chóng

Các yếu tố ảnh hưởng tới khối lượng công việc thợ sơn

1 ngày thợ sơn được bao nhiêu m2? Công thợ bao nhiêu?

Bước chuyển từ nhập khẩu sang tự chủ công nghệ

Hành trình Việt hóa các loại thang máy – Khi doanh nghiệp Việt tự làm chủ công

Chọn sai chế độ làm mát

Cách sửa điều hòa Casper không mát đúng cách tại nhà

Nấm Linh Chi nâu

Nấm Linh Chi nâu là gì? công dụng với sức khoẻ như thế nào?

Wi-Fi 6 kết hợp Bluetooth 5.3 – Kết nối không dây toàn diện

Acer Aspire 3 trang bị Wi-Fi 6 – Tốc độ kết nối nhanh và ổn định

Khám Phá 10 Từ Ngữ Địa Phương – Bí Quyết Giao Tiếp Đậm Chất Văn Hóa

10 Từ Láy Vần

Khám Phá Vẻ Đẹp Của Tiếng Việt Qua 10 Từ Láy Vần – Những Nét Đặc Sắc Trong Ngôn Ngữ

Khám Phá 100 Từ Ngữ Địa Phương Miền Bắc – Những Sắc Thái Đặc Trưng Của Ngôn Ngữ Việt Nam

Khám Phá 100 Từ Ngữ Địa Phương Miền Bắc – Những Di Sản Văn Hóa Quý Giá

100 Từ Ngữ Địa Phương Miền Bắc

100 Câu Bài Tập Thì Hiện Tại Đơn

100 Câu Bài Tập Thì Hiện Tại Đơn – Học Ngữ Pháp Tiếng Anh Hiệu Quả

Footer

Liên Hệ

Thông tin tư vấn việc làm JOBPRO
Tel: 0333-088-889 – Mr. Định
Email: [email protected] – [email protected]

Danh mục

  • Ảnh & Quotes
  • Biểu Mẫu
  • Học Tập
  • Sự Nghiệp
  • Tài Liệu
  • Tin Tức
  • Tư Vấn Phát Luật
  • Việc Làm

Bài viết mới

  • Hãng Taxi Tải Thành Hưng – Dịch Vụ Chuyển Nhà, Chở Hàng Uy Tín Tại Hà Nội
  • Cleanhouse Và Xu Hướng Chuyên Nghiệp Hóa Dịch Vụ Vệ Sinh Công Nghiệp
  • Taxi tải Thành Hưng Nam Định – Chuyển nhà nhanh chóng
  • 1 ngày thợ sơn được bao nhiêu m2? Công thợ bao nhiêu?
  • Hành trình Việt hóa các loại thang máy – Khi doanh nghiệp Việt tự làm chủ công

Copyright © 2026 · JOBPRO Thiết kế - seo bởi Dịch vụ seo DDI